Tỉnh Ủy Lào Cai
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Tỉnh Lào Cai thực hiện tốt tái cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, với định hướng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong việc tái cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp nhằm khai thác tiềm năng lợi thế, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phù hợp nhu cầu thị trường; nâng cao giá trị thu nhập cho cư dân nông thôn, giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị - xã hội khu vực nông thôn là yêu cầu thực tế khách quan và cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, thực tế ở địa phương và xu thế phát triển trong tình hình mới. Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2016-2020 đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đảm bảo an ninh lương thực; bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, gia trại; lâm nghiệp đã bắt đầu chuyển đổi từ trồng rừng gỗ nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn và trồng rừng đa mục đích; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Nông, lâm nghiệp đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 70% dân cư nông thôn góp phần quan trọng nâng cao đời sống của người nông dân, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, ổn định chính trị - xã hội khu vực nông thôn. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn năm 2018 đạt trên 26 triệu đồng/người/năm, tăng 13 triệu đồng so với năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5 - 6%/năm (mục tiêu 3 - 5%/năm). Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt những kết quả bước đầu; hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống vật chất tinh thần của dân cư khu vực nông thôn đang ngày càng được cải thiện. Đến nay có 45/143 xã hoàn thành nông thôn mới, đạt 90% mục tiêu Đại hội và MTĐA (50 xã đạt nông thôn mới).

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2018 theo giá so sánh 2010 đạt 6.530 tỷ đồng, tăng 1.046 tỷ đồng so với 2015; tốc tăng trưởng bình quân 6,01% bằng 100,1% so với mục tiêu Đề án (MTĐA). Giá trị sản phẩm trên 1 đơn vị ha canh tác năm 2018 đạt 69 triệu đồng, tăng 41,62% (20,28 triệu đồng/ha) so với năm 2015, đạt 86,2% MTĐA (80 triệu đồng/ha) và 92% MTĐH (75 triệu đồng/ha). Tổng sản lượng lương thực năm 2018 đạt 319.947 tấn, tăng 13,49% so với 2015, đạt 94,1% so với MTĐA và 96,95% so với mục tiêu Đại hội, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định cuộc sống cho nhân dân các dân tộc vùng cao. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2018 đạt 54,9%, tăng 1,6% so với 2015 và đạt  985% MTĐA (56%). Chăn nuôi hàng hóa phát triển tốt, tổng sản lượng thịt hơi các loại năm 2018 đạt 62.579 tấn, tăng 13,1% so với năm 2015. Thủy sản đạt sản lượng đạt 8.000 tấn/năm, tăng 40,4% so với 2015 và đạt 81,5% MTĐA. Sản phẩm chăn nuôi, thủy sản đã đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng nội tỉnh.

Bên cạnh kết quả đã đạt được còn một số tồn tại, hạn chế đó là: Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các khâu sản xuất chưa đồng bộ, chưa tập trung đi vào bảo quản, chế biến sau thu hoạch, giá trị gia tăng thấp. Sản phẩm nông nghiệp còn phân tán, nhỏ lẻ, sản phẩm chủ lực mang thương hiệu đặc trưng của địa phương còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Kết quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế, một số cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như dược liệu, rau trái vụ, cây ăn quả ôn đới (Lê, Đào, Mận địa phương) chưa có vùng sản xuất quy mô lớn, sản lượng chưa nhiều; việc nhân rộng mô hình có hiệu quả vào sản xuất đại trà còn hạn chế. Chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ, phân tán. Phát triển chăn nuôi chưa gắn với xây dựng cơ sở giết mổ tập trung theo Quy hoạch. Hiệu quả kinh tế lâm nghiệp thấp chưa tương xứng với tiềm năng. Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm quy mô chưa lớn và thiếu bền vững; các hình thức tổ chức sản xuất thiếu chặt chẽ, lợi nhuận chưa ổn định, hiệu quả hoạt động chưa cao. Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, cơ sở sản xuất, dịch vụ, chế biến, bảo quản nông sản... chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chưa đầu tư đồng bộ cho các dự án, đề án sản xuất hàng hóa nên chưa hình thành được những vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn.

Để thực hiện tốt các mục tiêu của Đề án trong thời gian tới tỉnh Lào Cai tiếp tục chỉ đạo: Sản xuất đảm bảo an ninh lương thực, để hoàn thành mục tiêu tổng sản phẩm lương thực có hạt đạt 340.000 tấn vào năm 2020, duy trì và mở rộng diện tích gieo trồng các giống mới, giống lai, giống tiến bộ vào sản xuất; triển khai mạnh mẽ và quyết liệt việc mở rộng diện tích sản xuất cánh đồng một giống, ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI, phát triển vùng thâm canh ngô sử dụng kỹ thuật canh tác trồng ngô mật độ cao. Tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm chủ lực khác như cây ăn quả ôn đới ứng dụng công nghệ cao tại các huyện: Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát...; cây chè tại Mường Khương, Bảo Thắng, Bảo Yên, sản xuất chè an toàn, nâng cao uy tín và giá thành sản phẩm chè của Lào Cai. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế đối với diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã đạt được (1.953,2ha); đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật về giống, quy trình canh tác vào sản xuất sản phảm có ưu thế như dược liệu, rau trái vụ, hoa, cây ăn quả ôn đới. Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp tiếp cận đất đai và nguồn vốn, vận động nông dân góp đất, dồn điền đổi thửa, cho thuê đất hoặc góp đất để liên kết phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao. Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo vùng, vùng thấp khuyến khích thay đổi cơ cấu giống và phát triển các giống cao sản, vùng cao tập trung phát triển chăn nuôi các loại vật nuôi đặc sản bản địa, chăn nuôi hữu cơ để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm tránh rủi ro; chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, duy trì hình thức chăn nuôi nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao an toàn dịch bệnh. Tập trung sản xuất và nâng cao chất lượng con giống các loại cá truyền thống, đảm bảo đủ giống, đúng mùa vụ; phát triển cá nước lạnh ở một số xã vùng cao. Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, thực hiện xã hội hóa nghề rừng. Phấn đấu lũy kế đạt 50 xã nông thôn mới, chiếm 34,97% số xã của toàn tỉnh, đến năm 2020 bình quân tiêu chí/xã đạt 14,1 tiêu chí, không có xã nào đạt dưới 5 tiêu chí.

 


Tác giả: Thành Nam
Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Đăng nhập
Hôm nay : 214
Tháng 07 : 4.784
Năm 2019 : 141.606