Tỉnh Ủy Lào Cai
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Mường Khương nỗ lực phấn đấu thực hiện hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020

Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện, tuy còn gặp nhiều khó khăn, song với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc trên địa bàn, huyện Mường Khương đã hoàn thành nhiều mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

 

Ảnh: Lễ kỷ niệm 110 năm ngày thành lập huyện Mường Khương

Ngay sau đại hội, nhằm cụ thể hóa nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã xây dựng 5 chương trình công tác trọng tâm với 15 đề án, ban hành các nghị quyết chuyên đề, đặc biệt là nghị quyết về đẩy mạnh phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo bền vững tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Mường Khương giai đoạn 2017 - 2020 để chỉ đạo thực hiện hoàn thành mục tiêu đề ra. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mường Khương luôn phát huy truyền thống đoàn kết, khắc phục khó khăn, phát huy nội lực; nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền; đời sống có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống chính trị ổn định; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững, cụ thể như sau:

Kinh tế xã hội tiếp tục phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp 42,28% bằng 99% mục tiêu Nghị quyết (MTNQ), công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 22,6% bằng 100% MTNQ, thương mại, du lịch, dịch vụ 35,02% bằng 100,9% MTNQ; thu nhập bình quân đạt 27,5 triệu đồng/người/năm bằng 91,6% MTNQ.

Sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến mạnh mẽ, công nghệ cao từng bước được ứng dụng vào sản xuất đã góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương. Trên địa bàn đã hình thành vùng hàng hóa gắn với thị trường, nhiều sản phẩm nông nghiệp của huyện được người tiêu dùng ưa chuộng bởi yếu tố vượt trội về chất lượng. Thương hiệu sản phẩm nông nghiệp tiếp tục được củng cố trên thị trường. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 39.638 tấn/năm bằng 122% MTNQ. Giá trị thu hoạch sản phẩm trên ha đất canh tác đạt 50 triệu đồng/năm bằng 91% MTNQ; hệ số sử dụng đất nông nghiệp đạt 1,67 lần. Trồng chè mới 749 ha bằng 107% kế hoạch. Trồng mới 200 ha quýt bằng 100% MTNQ. Chăn nuôi phát triển khá, duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng chăn nuôi 5%/năm bằng MTNQ; tổng đàn gia súc hiện có đạt 49.000 con, sản lượng thịt hơi đạt 2.600 tấn/năm; hình thành 05 trang trại và 22 gia trại chăn nuôi lợn thịt quy mô từ 30 con trở lên. Phát triển lâm nghiệp thường xuyên được quan tâm, đã có 1.193 ha rừng được trồng mới bằng 53% MTNQ, trên 11.000 ha được khoanh nuôi bảo vệ hàng năm, qua đó góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 43% bằng 86% MTNQ.

Ảnh: Lễ công bố xã Thanh Bình đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2018

Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ, quyết liệt; nhân dân các dân tộc nhiệt tình ủng hộ, tích cực tham gia, bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, đổi mới, đến hết năm 2018 toàn huyện đã hoàn thành 197/304 lượt tiêu chí, bình quân đạt 12,3 tiêu chí/xã, 04 xã đạt chuẩn nông thôn mới bằng 100% MTNQ; 99,5% số thôn bản có đường bê tông hoặc cấp phối ô tô đi lại được bằng 111%MTNQ; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 97% bằng 99% MTNQ, 209 thôn bản có điện lưới quốc gia bằng 100% MTNQ; 97% số hộ dân được sử dụng điện bằng 102,1% MTNQ.

 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển khá, các ngành nghề truyền thống như: Mây tre đan, chế biến thực phẩm... tiếp tục được quan tâm đầu tư mở rộng sản xuất, giá trị đạt 125 tỷ đồng/năm bằng 83% MTNQ; thương mại, dịch vụ phát triển ổn định, tổng lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến địa bàn bình quân 12.341 lượt khách/năm bằng123,4% MTNQ. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 64,7 tỷ đồng bằng 185% MTNQ; bình quân tăng 12%/năm bằng 120% MTNQ.

Chất lượng giáo dục chuyển biến ở tất cả các cấp học. Huy động trẻ đi học mẫu giáo (3-5 tuổi) đạt 99,9% bằng 101,9% MTNQ; trẻ 6 tuổi vào lớp 1 bằng 100% MTNQ; trẻ từ 6-14 tuổi đi học đạt 100% bằng 101% MTNQ. 29/58 trường đạt chuẩn quốc gia bằng 100% MTNQ. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai đồng bộ và hiệu quả, đặc biệt Bệnh viện Đa khoa huyện được Bộ Y tế công nhận là Bệnh viện vệ tinh thuộc Bệnh viện Đại học y Hà Nội qua đó đã nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh, phát hiện, chữa trị được nhiều ca bệnh phức tạp, hiểm nghèo, hạn chế số lượng bệnh nhân chuyển tuyến trên. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,8% bằng 95% MTNQ; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 95% trở lên bằng 105,6%; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng theo thể cân nặng xuống còn 18,5% bằng 97,2% MTNQ; 14/16 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế bằng 87.5% MTNQ.

Hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức đảm bảo về quy mô, nội dung và hình thức, tạo không khí sôi nổi, vui tươi trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Hàng năm có 75% số thôn, bản, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa 100% MTNQ; 99% cơ quan, đơn vị, trường học trạm y tế đạt văn hóa bằng 101% MTNQ; hàng năm có trên 76,6% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa bằng 109,4 MTNQ; 69,4% số thôn, bản, tổ dân phố có nhà văn hóa bằng 92,5% MTNQ. Tỷ lệ hộ xem được truyền hình Việt Nam 90% bằng 96,8; Tỷ lệ nghe được Đài tiếng nói Việt Nam 98% bằng 100% MTNQ.

 Các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, đúng quy định. Tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân hàng năm đạt 43% bằng 123% MTNQ. Hàng năm đào tạo nghề và tạo việc làm mới cho trên 1.235 lao động bằng 123,5% MTNQ.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định, biên giới quốc gia được giữ vững. Hoạt động đối ngoại thu được nhiều kết quả quan trọng, đặc biệt trong việc giao lưu hữu nghị, kết nghĩa với 02 huyện Mã Quan, Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thường xuyên được quan tâm chú trọng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; chất lượng sinh hoạt chi bộ ngày càng được nâng cao, phát triển đảng viên ở nông thôn, nhất là đảng viên nữ được quan tâm, kết nạp đảng viên mới đạt trên 220 đảng viên/năm bằng 110% MTNQ. Số chi bộ thôn có ban chi ủy đạt 65/192 thôn, bằng 33,8% bằng 67,6% MTNQ. Việc học tập và làm theo Bác được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, từng bước đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả thiết thực. Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 92,7% bằng 109% MTNQ.

Sau 03 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, trong tổng số 54 mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra có 37 mục tiêu đạt và vượt; có 12 mục tiêu đạt trên 80%; không có mục tiêu đạt dưới 50%. Những kết quả trên là động lực to lớn để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mường Khương nỗ lực hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu còn lại trong những năm cuối nhiệm kỳ 2015 - 2020./.

                                              


Tác giả:   Phạm Kim Chính
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Đăng nhập
Hôm nay : 228
Tháng 07 : 4.798
Năm 2019 : 141.620